Mạ kẽm nhúng nóng tại Phú Mỹ
Dịch vụ mạ kẽm nhúng nóng cho cấu kiện thép, chi tiết cơ khí và hàng hoá tại phường Phú Mỹ, khu vực Cái Mép - Thị Vải. Nghiệm thu theo ASTM A123: chiều dày lớp mạ, khối lượng lớp mạ và bề mặt.
Chúng tôi làm được mạ kẽm nhúng nóng ngay tại xưởng ở phường Phú Mỹ, không gửi đi nơi khác. Với khách trong khu vực Cái Mép - Thị Vải và các KCN Phú Mỹ, Mỹ Xuân, điều đó bớt được một chặng vận chuyển và một đầu mối phải theo dõi tiến độ.
Nhận mạ cho cấu kiện thép nhà xưởng, chi tiết cơ khí và hàng hoá kim loại: khung kèo, giá đỡ, thang máng cáp, hệ treo và giá đỡ ống, bulong neo, ty ren, pát và bát treo các loại. Nhận cả hàng bạn tự gia công mang tới mạ, lẫn hàng chúng tôi gia công rồi mạ trọn gói.
Cấu kiện dài hoặc cồng kềnh thì gọi trước để chúng tôi xác nhận - kích thước lọt bể là điều nên hỏi ngay từ khâu bản vẽ, rẻ hơn nhiều so với sửa sau khi đã cắt thép. Trang này giải thích phần kỹ thuật để bạn biết mình đang mua cái gì và nghiệm thu nó bằng cách nào.
Vì sao vùng ven biển cần mạ nhúng nóng, không phải sơn
Không khí Cái Mép - Thị Vải mang hơi muối. Đây là khác biệt thật về tuổi thọ chứ không phải lời chào hàng: một lớp sơn phủ ngoài trời gần biển sẽ bong ở mép và ở mối hàn trước tiên, rồi rỉ ăn ngược vào bên trong lớp sơn còn nguyên.
Mạ kẽm nhúng nóng khác ở ba điểm:
- Lớp kẽm không nằm trên thép mà hợp kim hoá với thép. Ở vùng tiếp giáp, kẽm và sắt tạo thành các lớp hợp kim liên kết luyện kim, không phải lớp phủ dán bên ngoài như sơn. Vì vậy nó không bong.
- Kẽm hy sinh để cứu thép. Khi bề mặt bị trầy tới nền thép, kẽm quanh vết trầy tiếp tục bị ăn mòn thay cho thép - vết trầy nhỏ tự được che. Sơn thì ngược lại: trầy tới đâu, rỉ bắt đầu từ đó.
- Nhúng cả vào bể nên phủ được chỗ khuất. Mặt trong ống, góc kẹt, mối hàn và mép cắt đều có kẽm. Đó đúng là những chỗ sơn phun luôn bỏ sót, và cũng là những chỗ rỉ bắt đầu.
Khi nào KHÔNG nên nhúng nóng: chi tiết mỏng dễ cong do sốc nhiệt; chi tiết đã gia công tinh cần dung sai chặt; chi tiết cần đúng màu theo bảng RAL. Ba trường hợp này nên tính mạ kẽm điện phân hoặc sơn tĩnh điện - chúng tôi làm được cả ba, và sẽ nói thẳng phương án nào hợp với chi tiết của bạn.
Quy trình mạ - sáu bể, và vì sao không được bỏ bể nào
Chất lượng lớp mạ được quyết định gần hết ở khâu chuẩn bị bề mặt, không phải ở khâu nhúng. Kẽm nóng chảy chỉ bám vào thép sạch tuyệt đối: còn sót một vệt dầu hay một mảng gỉ thì chỗ đó không có kẽm, và nó sẽ là điểm rỉ đầu tiên.
| Bước | Làm gì | Bỏ qua thì sao |
|---|---|---|
| 1. Tẩy dầu mỡ | Ngâm trong dung dịch kiềm nóng hoặc axit để lấy đi dầu, mỡ, bụi bẩn và vết sơn đánh dấu | Kẽm không bám, để lại mảng hở |
| 2. Rửa | Rửa sạch hoá chất của bước trước | Hoá chất theo sang bể sau, làm hỏng bể |
| 3. Tẩy gỉ | Ngâm trong axit sunfuric nóng hoặc axit clohydric để lấy đi gỉ sét và vảy cán | Kẽm bám lên vảy gỉ chứ không bám vào thép, lớp mạ bong từng mảng |
| 4. Trợ dung | Nhúng qua dung dịch kẽm amoni clorua - lớp trợ dung giữ cho bề mặt không oxy hoá lại trong lúc chờ, và giúp kẽm thấm ướt bề mặt thép | Thép oxy hoá lại ngay trước khi nhúng, lớp mạ loang lổ |
| 5. Sấy khô | Sấy cho cấu kiện khô hẳn trước khi hạ xuống bể kẽm | Nước gặp kẽm nóng chảy nổ tung - nguy hiểm chết người |
| 6. Nhúng kẽm | Hạ vào bể kẽm nóng chảy khoảng 450 °C, giữ đủ thời gian để các lớp hợp kim kẽm - sắt hình thành, rồi nhấc lên và làm nguội | — |
Sau khi nguội là kiểm: đo chiều dày lớp mạ và soi bề mặt. Xem phần nghiệm thu bên dưới.
Lớp mạ gồm những gì - và vì sao nó cứng hơn cả thép nền
Cắt ngang một chi tiết mạ nhúng nóng rồi soi kính hiển vi, sẽ thấy lớp mạ không đồng nhất mà chia thành nhiều lớp. Tính từ ngoài vào:
| Lớp | Bản chất | Vai trò |
|---|---|---|
| Eta (ngoài cùng) | Kẽm nguyên chất, bám lại khi nhấc khỏi bể | Mềm, dẻo, chịu va đập; đây là lớp hy sinh trước |
| Zeta | Hợp kim kẽm - sắt | Bắt đầu cứng hơn, liên kết lớp ngoài với lớp trong |
| Delta | Hợp kim kẽm - sắt, nhiều sắt hơn | Cứng, chịu mài mòn |
| Gamma (sát thép) | Hợp kim kẽm - sắt, nhiều sắt nhất | Mỏng, cứng nhất, là chỗ lớp mạ dính vào thép |
Càng vào trong, tỷ lệ sắt càng cao và lớp càng cứng - các lớp hợp kim này cứng hơn cả thép nền. Đó là lý do hàng mạ nhúng nóng chịu được va quệt lúc vận chuyển và lắp đặt, thứ mà sơn không chịu nổi.
Hai cơ chế bảo vệ chạy song song:
- Rào chắn - lớp kẽm ngăn không khí và nước chạm tới thép.
- Bảo vệ ca-tốt (kẽm hy sinh) - ở chỗ lớp kẽm bị đứt, kẽm xung quanh ăn mòn thay cho thép. Nhờ vậy một vết cắt, một lỗ khoan tại công trường hay một vết trầy đều không thành điểm rỉ.
Nghiệm thu theo ASTM A123 - ba chỉ tiêu, không phải nhìn bằng mắt
Chúng tôi nghiệm thu lớp mạ theo ASTM A123 / A123M, tiêu chuẩn quốc tế cho lớp mạ kẽm nhúng nóng trên sản phẩm thép. Tiêu chuẩn này đặt ra ba chỉ tiêu vật lý, và cả ba đều đo được:
- Chiều dày lớp mạ (µm) - đo bằng thiết bị đo chiều dày lớp phủ. Chiều dày tối thiểu phụ thuộc loại sản phẩm và độ dày thép nền, không phải một con số duy nhất cho mọi thứ. Tra bảng đầy đủ ở bảng tra chiều dày lớp mạ ASTM A123.
- Khối lượng lớp mạ (g/m²) - cách kiểm chéo chỉ tiêu thứ nhất, dùng khi cần đối chứng.
- Bề mặt - liên tục, nhẵn và đều, không có vùng hở chưa phủ, không phồng rộp, không đọng trợ dung, không dính cục xỉ kẽm.
Ba chỉ tiêu này là thứ bạn nên yêu cầu ở bất kỳ xưởng mạ nào, kể cả khi không đặt hàng chúng tôi. Một bên chỉ nói "mạ kẽm nhúng nóng chất lượng cao" mà không nói đo theo gì thì không có gì để nghiệm thu.
Lớp mạ giữ được bao lâu - tính bằng phép chia, không phải bằng lời hứa
Tuổi thọ lớp mạ kẽm tính được, vì kẽm ăn mòn với tốc độ khá đều trong một môi trường cho trước. Tiêu chuẩn ISO 9223 chia môi trường thành các cấp ăn mòn kèm tốc độ ăn mòn kẽm tương ứng:
| Cấp | Môi trường | Kẽm mất mỗi năm | Lớp mạ 75 µm giữ được |
|---|---|---|---|
| C2 | Nông thôn, khô ráo, ít ô nhiễm | 0,1 - 0,7 µm | trên 100 năm |
| C3 | Đô thị, ô nhiễm vừa, ít clorua | 0,7 - 2,1 µm | khoảng 36 - 100 năm |
| C4 | Công nghiệp, hoặc ven biển cách xa mép nước | 2,1 - 4,2 µm | khoảng 18 - 36 năm |
| C5 | Biển, hoặc công nghiệp nặng nhiều clorua | 4,2 - 8,4 µm | khoảng 9 - 18 năm |
| CX | Ngoài khơi, ẩm ướt kéo dài, clorua rất cao | 8,4 - 25 µm | khoảng 3 - 9 năm |
Cột cuối là phép chia đơn giản: chiều dày lớp mạ chia cho tốc độ ăn mòn. Đây là ước lượng thời gian tới lần bảo trì đầu tiên, không phải cam kết bảo hành. Điều kiện thật tại từng vị trí lắp đặt có thể khác - chỗ được mưa rửa trôi muối thì bền hơn chỗ khuất mưa mà vẫn đọng hơi muối.
Khu vực Cái Mép - Thị Vải nằm ở đâu. Công trình ngoài trời trong khu vực này thường rơi vào khoảng C4 đến C5 tuỳ khoảng cách tới mép nước và tuỳ có nguồn ô nhiễm công nghiệp gần đó không. Đó là lý do chúng tôi hay khuyên tăng chiều dày lớp mạ cho cấu kiện ngoài trời trong vùng này, thay vì lấy mức tối thiểu của tiêu chuẩn.
Muốn bền hơn nữa thì sơn phủ lên lớp mạ - cách này gọi là hệ duplex. Tuổi thọ của hệ duplex lớn hơn tổng tuổi thọ của riêng lớp mạ cộng riêng lớp sơn, vì lớp sơn che cho kẽm còn kẽm che cho thép ở chỗ sơn bong.
Sáu khuyết tật thường gặp - cái nào phải từ chối, cái nào chấp nhận được
Hàng mạ nhúng nóng không phải lúc nào cũng bóng đều, và không phải mọi vết khác thường đều là hàng lỗi. Biết phân biệt giúp bạn nghiệm thu đúng chỗ, thay vì trả lại một lô hàng hoàn toàn dùng được.
| Hiện tượng | Nguyên nhân | Xử lý |
|---|---|---|
| Cục xỉ kẽm nổi trên bề mặt | Xỉ kẽm dưới đáy bể bị khuấy lên, bám vào cấu kiện | Phải xử lý nếu cục xỉ làm cản lắp ghép hoặc dễ bong |
| Đọng trợ dung - mảng xám đen, không có kẽm bên dưới | Lớp trợ dung không cháy hết, kẽm không bám được vào chỗ đó | Phải từ chối - đây là mảng hở, sẽ rỉ đầu tiên |
| Bề mặt thô ráp | Thành phần thép nền (thép nhiều silic), tẩy gỉ quá lâu, hoặc ngâm bể quá lâu | Chấp nhận được nếu đủ chiều dày và liên tục - thô không có nghĩa là mỏng |
| Màu xám xỉn, không sáng bóng | Thép nhiều silic làm lớp hợp kim phát triển tới tận bề mặt | Chấp nhận được. Thường còn dày hơn hàng sáng bóng |
| Gỉ trắng - bột trắng xám trên hàng mới mạ | Hàng xếp sát nhau, ẩm, không thoáng khí khi lưu kho hoặc vận chuyển | Thường chỉ là bề mặt. Kê kê thoáng, che mưa. Đo lại chiều dày để chắc |
| Cấu kiện cong vênh | Sốc nhiệt khi nhúng, ứng suất dư trong thép được giải phóng | Phòng từ khâu thiết kế: đối xứng, tránh ghép tấm dày với tấm mỏng |
Nói riêng về gỉ trắng: đây là thứ hay bị hiểu nhầm là hàng hỏng. Nó là kẽm phản ứng với hơi ẩm khi bị nhốt, xảy ra chủ yếu với hàng mới mạ chưa kịp tạo lớp oxit ổn định. Cách phòng nằm ở khâu lưu kho chứ không nằm ở lớp mạ: kê cao, kê nghiêng cho thoát nước, để thoáng, đừng phủ bạt kín.
Chuẩn bị cấu kiện - bốn việc phải xử lý từ khâu bản vẽ
Bốn điểm dưới đây nên xử lý ngay từ khi vẽ, vì sửa sau khi thép đã cắt thì tốn gấp nhiều lần:
- Lỗ thoát kẽm và thoát khí. Cấu kiện rỗng - ống, hộp, thùng kín - bắt buộc phải có lỗ cho kẽm lỏng vào và không khí thoát ra. Thiếu lỗ này, không khí bị bịt kín trong ống gặp kẽm nóng sẽ nở đột ngột: vừa nguy hiểm, vừa làm mặt trong không được phủ.
- Điểm treo. Cấu kiện được treo để nhúng, nên cần chỗ móc. Nếu bản vẽ không chừa lỗ treo, chúng tôi sẽ chọn giúp vị trí ít ảnh hưởng nhất - nhưng bạn tự chọn thì tốt hơn.
- Sơn, dầu mỡ, nhãn dán, xỉ hàn. Lớp kẽm không bám lên những thứ này. Chúng tôi có công đoạn tẩy dầu và tẩy gỉ, nhưng sơn cũ và xỉ hàn còn sót thì nên làm sạch từ trước.
- Chi tiết ren. Lớp kẽm dày vài chục micromet sẽ lấp bớt ren. Nói rõ chi tiết nào có ren để xưởng trừ hao khi gia công hoặc taro lại đai ốc sau mạ.
Thứ tự đúng là hàn xong rồi mới mạ, để lớp kẽm phủ cả mối hàn. Mạ trước rồi hàn thì nhiệt hàn đốt cháy lớp kẽm quanh mối, và chính chỗ đó sẽ rỉ đầu tiên.
Gửi bản vẽ - nhận báo giá
Gửi bản vẽ, chúng tôi soát tính khả thi rồi báo giá. Chưa có bản vẽ vẫn đặt được: gửi ảnh chụp chi tiết mẫu, chúng tôi vẽ lại bản vẽ kỹ thuật giúp bạn.
Câu hỏi thường gặp
Xưởng nhận mạ hàng do nơi khác gia công không?
Có. Bạn mang cấu kiện tới, chúng tôi mạ và trả lại. Nên gọi trước cho biết kích thước bao lớn nhất và khối lượng để chúng tôi xác nhận cấu kiện nhúng được.
Cấu kiện dài quá bể thì xử lý thế nào?
Vẫn mạ được bằng cách nhúng hai đầu (nhúng kép), nhưng cách này để lại vệt giáp mối thấy được trên bề mặt. Nếu cấu kiện của bạn nằm ở ranh giới đó, gọi trước để chúng tôi tính cách chia đoạn hoặc chia mối lắp ghép ngay từ khâu bản vẽ.
Lớp mạ kẽm nhúng nóng dày bao nhiêu là đạt?
Không có một con số chung. Theo ASTM A123, chiều dày tối thiểu phụ thuộc loại sản phẩm (thép hình, thép tấm, thanh, ống, dây) và độ dày thép nền - thép càng dày thì yêu cầu lớp mạ càng dày. Tra bảng đầy đủ ở bảng tra ASTM A123.
Hàng mạ về màu xám xỉn chứ không sáng bóng, có phải hàng lỗi không?
Thường là không. Màu xám xỉn do thành phần silic trong thép nền làm lớp hợp kim kẽm - sắt phát triển tới tận bề mặt. Lớp mạ đó thậm chí thường dày hơn hàng sáng bóng. Cách kiểm đúng là đo chiều dày, không phải nhìn màu.
Hàng mới mạ về bị bột trắng bám, có sao không?
Đó là gỉ trắng, do hàng bị xếp sát nhau trong điều kiện ẩm và không thoáng khí. Thường chỉ ở bề mặt và không ảnh hưởng tuổi thọ, nhưng nên đo lại chiều dày để chắc. Phòng bằng cách kê cao, kê nghiêng cho thoát nước và để thoáng, đừng phủ bạt kín.
Mạ kẽm nhúng nóng khác mạ kẽm điện phân thế nào?
Nhúng nóng cho lớp kẽm dày hơn nhiều lần và hợp kim hoá với nền thép, nên bền hơn hẳn ngoài trời, nhưng bề mặt thô hơn và chi tiết có thể cong do sốc nhiệt. Điện phân cho lớp mỏng, bề mặt sáng đẹp, giữ được dung sai - hợp với chi tiết nhỏ dùng trong nhà. Chọn theo môi trường lắp đặt, không chọn theo giá.
Chi tiết inox có cần mạ kẽm không?
Không. Inox tự bảo vệ bằng lớp oxit crom trên bề mặt; nhúng inox vào bể kẽm không mang lại lợi ích. Nếu chi tiết của bạn phải chịu môi trường ven biển, chọn giữa hai hướng: thép mạ kẽm nhúng nóng, hoặc inox 316 - xem bảng chọn inox.
Sau khi mạ nhúng nóng có sơn phủ thêm được không?
Được, và cách làm này gọi là hệ duplex - dùng khi cần vừa bền vừa đúng màu. Bề mặt kẽm mới nhúng cần được xử lý tạo bám trước khi sơn, nếu không lớp sơn sẽ bong. Nói rõ yêu cầu sơn phủ ngay từ đầu để xưởng bố trí đúng quy trình.
Cắt hoặc khoan chi tiết đã mạ tại công trường thì chỗ đó có rỉ không?
Vết cắt nhỏ và lỗ khoan thường được kẽm xung quanh bảo vệ theo cơ chế hy sinh, nên không thành điểm rỉ. Với diện tích hở lớn hơn, nên vá lại bằng sơn giàu kẽm.
CÔNG TY TNHH GIẢI PHÁP CÔNG NGHIỆP PHÚ MỸ cung cấp mạ kẽm nhúng nóng cho doanh nghiệp, nhà máy và xí nghiệp tại phường Phú Mỹ, TP. Hồ Chí Minh (Bà Rịa – Vũng Tàu cũ) và các khu công nghiệp lân cận. Giao tận nơi, báo giá theo số lượng.
Chúng tôi xuất hóa đơn VAT đầy đủ cho doanh nghiệp và có giá tốt hơn theo số lượng. Cần tư vấn hoặc báo giá mạ kẽm nhúng nóng, quý khách vui lòng liên hệ hotline 0969 000 072 hoặc email cs@gpcnphumy.com.
